VÒNG BI

Phương Pháp Điều Trị Bệnh Rối Loạn Lo Âu Lan Tỏa

Thứ hai, 25/11/2019, 13:38 GMT+7

Rối loạn lo âu lan tỏa là một chứng bệnh rối loạn tâm lý nói chung và chứng bệnh rối loạn lo âu nói riêng. Căn bệnh tiềm tàng xảy ra với mọi lứa tuổi gây ra những ảnh hưởng đáng kể đến đời sống sinh hoạt, học tập và công việc của người bệnh. Là một chứng bệnh nguy hiểm, liệu rối loạn lo âu lan tỏa có chữa được không? Và các phương pháp điều trị bệnh rối loạn lo âu lan toản hiểu quả nhất hiện nay là gì ? Mời các bạn cùng Thuocthang.com.vn tìm hiểu chi tiết hơn qua bài viết dưới đây!

Phương Pháp Điều Trị Bệnh Rối Loạn Lo Âu Lan TỏaPhương Pháp Điều Trị Bệnh Rối Loạn Lo Âu Lan Tỏa

RỐI LOẠN LO ÂU LAN TỎA LÀ GÌ ?

 

 

Rối loạn lo âu lan tỏa (tiếng Anh: generalized anxiety disorder) là một dạng trong nhóm bệnh rối loạn lo âu có đặc điểm cơ bản là sự lo âu lan tỏa và dai dẳng đồng thời không giới hạn và nổi bật trong bất cứ tình huống đặc biệt nào. Triệu chứng thể chất thường đi kèm với lo âu bao gồm bất an, dễ mệt mỏi, run rẩy, căng thẳng bắp thịt, vã mồ hôi, choáng váng, hồi hộp, chóng mặt, đầu óc trống rỗng, đánh trống ngực, khó chịu ở vùng bụng, khó nuốt, buồn nôn, tính tình trở nên cáu kỉnh. Tuy nhiên cần thấy được sự khác nhau giữa lo âu thông thường và lo âu bệnh lý.

Khi cảm thấy lo âu rất nhiều mà không do nguyên nhân nào rõ rệt, không còn khả năng tự kiểm soát được bản thân, lo âu làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống hàng ngày thì đó là bệnh lý. Cần phân biệt rối loạn lo âu lan tỏa với các rối loạn lo âu khác vì chúng thường có một số điểm chung dễ gây nhầm lẫn. Ám ảnh sợ xã hội, ám ảnh sợ khoảng trống, ám ảnh sợ chuyên biệt đều có đặc điểm chung là tình huống gây lo âu đều cụ thể trong một hoặc một nhóm hoàn cảnh, đối tượng nhất định trong khi đó rối loạn lo âu lan tỏa không khu trú ở một tình huống cụ thể nào, cái tên "lan tỏa" của nó cũng bắt nguồn từ tính chất này. Bệnh còn có tên khác là rối loạn lo âu toàn thể.

CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN KẾT HỢP

Rối loạn lo âu lan tỏa hiếm khi là rối loạn duy nhất ở người bệnh, nó thường đi kèm với các loại rối loạn lo âu khác, trầm cảm, hoặc lạm dụng chất.

Ở người mắc rối loạn lo âu lan tỏa thì trầm cảm là bệnh tâm thần thường kết hợp nhất, xảy ra gần 2/3 các trường hợp. Rối loạn hoảng loạn có ở 1/4 số bệnh nhân có rối loạn lo âu lan tỏa, lạm dụng rượu có nhiều hơn 1/3 các trường hợp. Các nghiên cứu gần đây trên trẻ sinh đôi cho thấy xu hướng chung các yếu tố di truyền của cả hai rối loạn lo âu lan tỏa và trầm cảm, và một báo cáo mới đây đề nghị một khác biệt di truyền về gen vận chuyển serotonin có thể góp phần ở người có cả hai bệnh lý này. Theo thống kê riêng ở Mỹ của dự án nghiên cứu National Comorbidity Survey trong năm 2005 (một dự án nghiên cứu về tỉ lệ các rối loạn tâm thần ở người Mỹ) thì 58% bệnh nhân được chẩn đoán trầm cảm có rối loạn lo âu, trong số đó 17,2% là rối loạn lo âu lan tỏa, 9,9% là rối loạn hoảng sợ

TÌM HIỂU BIỂU HIỆN VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA BỆNH RỐI LOẠN LO ÂU LAN TỎA

Để biết được chứng bệnh rối loạn lo âu có chữa được hay không trước tiên ta phải hiểu được cơ bản những triệu chứng, nguyên nhân bệnh từ đó mới có thể đi đến kết luận bệnh bởi ở mỗi mức độ bệnh khác nhau sẽ có phác đồ điều trị phù hợp cho người bệnh. Cùng tìm hiểu một số những biểu hiện và nguyên nhân của bệnh.

  • Biểu hiện của bệnh

 

 

Một số biểu hiện cơ bản của người mắc chứng rối loạn lo âu lan tỏa:

+ Dễ bị kích động, cáu gắt với người xung quanh, tâm lý không ổn định, cảm giác lo lắng luôn thường trực

+ Bị rối loạn nhịp tim, rối loạn giấc ngủ, rối loạn ăn uống kèm theo đó là hoa mắt, chóng mặt, đau đầu và mệt mỏi

+ Luôn có những suy nghĩ tiêu cực về mọi thứ, tất cả những điều xảy ra trong quá khứ hay hiện tại đều khiến người bệnh lo lắng và không có lỗi thoát cho bản thân.

  • Nguyên Nhân Của Bệnh

Nguyên nhân cơ bản của rối loạn lo âu được cho là do sự thiếu hụt các chất dẫn truyền thần kinh như Serotonin, norepinephrine và GABA. gây ra những rối loạn về tâm lý cho người bệnh. Ngoài ra một số nguyên nhân khác cũng gây ra chứng rối loạn lo âu:

+ Do chấn động tâm lý, tuổi thơ sống với nhiều bất hạnh và thiệt thòi

+ Do căng thẳng mệt mỏi kéo dài trong công việc

+ Do áp lực cuộc sống kéo dài

+ Do vấn đề về sức khỏe, bị mắc một số bệnh tật khiến bản thân suy nghĩ và lo âu quá mức

+ Do sử dụng các chất kích thích, gây ảnh hưởng đến thần kinh não bộ

+ Do những yếu tố tâm lý: Những người có tâm lý yếu thường khó chống lại những căng thẳng gây ra rối loạn về lo âu.

CÁC PHƯƠNG PHÁP CHUẨN ĐOÁN BỆNH RỐI LOẠN LO ÂU LAN TỎA

Bệnh nhân có rối lọan lo âu lan tỏa thường có các triệu chứng cơ thể, các triệu chứng này khó chẩn đóan phân biệt với các triệu chứng của các bệnh cơ thể kết hợp với lo âu. Các yếu tố đề nghị lo âu là triệu chứng của bệnh nội khoa bao gồm khởi phát các triệu chứng sau tuổi 35, không có tiền sử gia đình và tiền sử cá nhân về lo âu, không có đời sống nhiều sang chấn, ít hay không có sự né tránh các tình huống gây lo âu và đáp ứng kém với các thuốc chống lo âu. Nguyên nhân thực thể nên được nghi ngờ khi lo âu xãy ra sau các thay đổi gần đây về thuốc hay kèm theo các dấu hiệu và triệu chứng của một bệnh mới.

Trong đánh giá các bệnh nhân có rối lọan lo âu, các Bác Sĩ thực hành nên thường xuyên xem xét các bệnh nội khoa (như là bệnh tim, bệnh phổi, bệnh thần kinh, bệnh nội tiết, ví dụ, cường giáp), sử dụng thuốc (như là cocain, các thuốc kích thích khác, ví dụ, cafein), cai nghiện thuốc (như là nhưng sử dụng cồn, thuốc phiện, hay các thuốc nhóm Benzodiazepine), kể cả thuốc kê đơn và thuốc không kê đơn (như là corticosteroid, các thuốc cường giao cảm, thuốc đông y, ví dụ, nhân sâm).

Trước khi chẩn đóan rối lọan lo âu lan tỏa, các Bác Sĩ thực hành nên hỏi bệnh sử và khám thực thể để lọai trừ các nguyên nhân nội khoa của lo âu. Cận lâm sàng được thực hiện theo biểu hiện lâm sàng, hiệu quả  thì không rỏ ràng, nhưng tỷ lệ lưu hành cao của rối lọan lo âu lan tỏa trong số bệnh nhân cường giáp, nên đo lường thyrotropin là hợp lý.

 

 

Các rối lọan tâm thần khác có thể chẩn đóan lầm với rối lọan lo âu lan tỏa đòi hỏi được chẩn đóan phân biệt. Trong khi rối lọan lo âu lan tỏa được định nghĩa như lo lắng hầu hết thời gian, tối thiểu 6 tháng; rối lọan hỏang lọan đặc trưng bởi các cơn hỏang lọan tái phát, theo sau, tối thiểu một tháng tồn tại lo âu xãy ra các cơn hỏang lọan. Rối lọan ám ảnh xung động biểu hiện tư duy và hành vi nghi thức; rối lọan sau sang chấn gồm hành vi tránh né, tình trạng tê liệt, tình trạng tăng thức tĩnh; ám ảnh sợ xã hội gồm lo âu về tình huống sắp xãy ra nghiêm trọng liên quan với các tình huống xã hội; rối lọan cơ thể hóa gồm các triệu chứng cơ thể đa dạng nhưng không có hay không tương xứng các bệnh lý ngọai khoa.

Đánh giá trầm cảm và nguy cơ tự sát:

Khi rối lọan lo âu lan tỏa biến chứng đến trầm cảm rỏ rệt thì chúng có nguy cơ tự sát cao. Bệnh nhân nên được hỏi về các triệu chứng trầm cảm, kể cả ý tưởng tự sát. Nếu các câu trả lời gợi ý nguy cơ tự sát, lượng giá về tâm thần nên được thực hiện càng nhanh càng tốt.

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ:

Điều Trị Dược Lý

Phần nào vì trầm cảm thường kết hợp với rối lọan lo âu lan tỏa, các thuốc chống trầm cảm thường được dùng là thuốc đầu tay cho điều trị rối lọan lo âu lan tỏa. Các thuốc thường dùng và liều lượng, các tác dụng phụ được tóm tắt ở bảng 2.

• Thuốc chống trầm cảm 3 vòng:

Thuốc 3 vòng điều trị hiệu quả cho các bệnh nhân có rối lọan lo âu lan tỏa đơn thuần hay kết hợp với trầm cảm. Ơ một thử nghiệm có kiểm sóat, ngẩu nhiên, đáp ứng điều trị với imipramin cao hơn có ý nghĩa về mặt thống kê so với giả dược, có cải thiện các triệu chứng hơn 50%, ở thời điểm 8 tuần. Khi bắt đầu dùng, các thuốc 3 vòng có thể gây bồn chồn và mất ngủ, vì vậy, điều trị nên được khởi đầu ở nữa liều thông thường. Điều trị với thuốc 3 vòng có thể bị trở ngại bởi các tác dụng phụ,điều này có thể làm giảm tuân thủ điều trị của bệnh nhân.

Các thuốc ức chế lấy vào lại serotonin chọn lọc – SSRI:

Hiệu quả của các thuốc SSRI tương tự các thuốc 3 vòng, các thuốc SSRI có các tác dụng ít gây cản trở điều trị hơn. Ơ một thực nghiệm giả dược – kiểm sóat, ngẩu nhiên, trong 8 tuần trên 326 bệnh nhân ngọai trú, dùng paroxetin (20 đến 50 mg/ngày) có tỷ lệ đáp ứng cao hơn có ý nghĩa về mặt thống kê (với định nghĩa: cải thiện nhiều hay rất nhiều, có giảm lo âu và họat động chức năng tốt hơn) so với nhóm giả dược (72% so với 56%) và có tỷ lệ hồi phục cao hơn có ý nghĩa về mặt thống kê, hồi phục được định nghĩa: lo âu ít hay không lo âu và không giảm họat động chức năng, (42% so với 26%). Những kết quả này gần đây đẵ được xác nhận.

Trong một nghiên cứu có xem xét kỹ, bệnh nhân, đã đáp ứng với paroxetin trong thử nghiệm 8 tuần, được sắp xếp ngẫu nhiên để tiếp tục dùng paroxetin hay lấy giả dược trong 24 tuần tiếp theo. Tỷ lệ tái phát trong thời kỳ này là 11% đối với bệnh nhân nhận paroxetin, so với 41% bệnh nhân lấy giả dược. Trong số bệnh nhân tiếp tục nhận paroxetin, tỷ lệ hồi phục sau 6 tháng (73%) cao hơn so với tỷ lệ ở thời điểm 8 tuần. Một nghiên cứu đề nghị với tiến trình điều trị dài hơn làm tăng khả năng hồi phục.

Tình trạng không yên có thể xãy ra ở khởi đầu điều trị SSRI, vì thế, liều bắt đầu điều trị nên ở liều thấp. Paroxetin là một SSRI đã được dùng rộng rãi nhất cho điều trị rối lọan lo âu lan tỏa và đã chứng nhận được sử dụng bởi FDA ( cơ quan quản lý thực phẩm và thuốc Hoa Kỳ) cho chỉ định này, nhưng các thuốc SSRI khác cũng đã được cho thấy hiệu quả như là Citalopram và escitalopram. Đặc biệt, về nguy cơ cao đối với tự sát trong số người dùng SSRI không được xác nhận qua xem xét các nghiên cứu kiểm sóat – giả dược, liên quan đến tổng cộng 48.277 bệnh nhân trầm cảm và 9 thuốc chống trầm cảm. Việc xem xét cho thấy không có khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê về tỷ lệ tự sát trong các nhóm nghiên cứu. Tuy nhiên, khởi đầu điều trị với bất cứ thuốc chống trầm cảm cho bệnh nhân trầm cảm đòi hỏi theo dõi ý tưởng và hành vi tự sát.

Các thuốc ức chế lấy vào lại serotonin và norepinephrin SNRI:

 

 

Venlafaxin phóng thích kéo dài (Effexor XR), một thuốc ức chế lấy vào lại serotonin – norepinephrin, cũng đã chứng nhận được sử dụng cho điều trị cả rối lọan lo âu lan tỏa và trầm cảm, và hiệu quả khi bệnh nhân có cả hai bệnh lý này. Trong báo cáo của hai thử nghiệm mù đôi, kiểm sóat – giả dược của venlafaxin phóng thích chậm, tỷ lệ đáp ứng trong số bệnh rối lọan lo âu lan tỏa là 58% tại thời điểm 8 tuần điều trị và 66% tại thời điểm 6 tháng điều trị (đốivới 36% và 39%, tương ứng, với giả dược). Hầu hết 2/3 số bệnh nhân không đáp ứng với venlafaxin tại thời điểm 8 tuần điều trị đả đáp ứng ở thời điểm 6 tháng điều trị (đối với 15% và 19%, tương ứng, với giả dược). Cần thận trọng với liều hơn 225 mg/ngày, bởi các biến chứng bất thường về chứng cao huyết áp tâm thu và ở bệnh nhân có tiền sử lọan nhịp thất hay rối lọan dẫn truyền, có nguy cơ các biến chứng này khi quá liều.

Thời Gian Điều Trị

Các đáp ứng thuốc điều trị thảo luận ở phần trên có thể xãy ra trong 8 tuần khi bệnh nhân nhận liều điều trị. Mặc dù tiến trình dài hơn có thể có các kết quả tốt hơn, đặc biệt ở các bệnh nhân có đáp ứng không hòan tòan sau 8 tuần điều trị. Mặc dù dữ kiện khách quan về tái phát và hồi phục khi dùng thuốc lâu dài thì rải rác, bệnh nhân đã đáp ứng thuốc nên được khuyến khích tiếp tục dùng thuốc trong vòng 6 tháng đến 1 năm. Khi thuốc không hiệu quả hay không dung nạp, đổi sang thuốc khác cùng nhóm và nhóm khác với chỉ định hợp lý, mặc dù lập luận này vẫn chưa được sử dụng rộng rãi.

• Các thuốc lo âu không thuộc Benzodiazepine:

Buspirone đã được cho thấy trong một thử nghiệm mù đôi có kiểm sóat, có hiệu quả trong điều trị rối lọan lo âu lan tỏa. Nó không gây an thần, không gây phụ thuộc cơ thể hay không gây cai nghiện chất. Tuy nhiên, nó không có tác dụng chống trầm cảm, vì thế không nên dùng đơn trị liệu cho lo âu kèm trầm cảm. Để cần có đáp ứng điều trị phải có từ 2 đến 4 tuần hay nhiều hơn khi dùng thuốc.

Các thuốc Benzodiazepine:

Các thử nghiệm mù đôi cũng đãcho thấy hiệu quả của các thuốc Benzodiazepine trong điều trị rối lọan lo âu lan tỏa, nhưng các tác dụng phụ có liên quan đặc biệt ở các bệnh nhân già (bảng 2). Trong một thử nghiệm ngẫu nhiên so sánh paroxetin, imipramin và một thuốc Benzodiazepin trong số bệnh nhân rối lọan lo âu lan tỏa không trầm cảm. Thuốc Benzodiazepin có hiệu quả nhất trong 3 lọai thuốc trong thời gian 3 tuần điều trị đầu tiên, nhưng ở thời điểm 8 tuần, nó có ít hiệu quả hơn các thuốc chống trầm cảm.

Khi dùng Benzodiazepin kéo dài (khi dùng liều điều trị tối thiểu 2 tháng) bệnh nhân có thể bị phụ thuộc cơ thể. Tuy nhiên, nghiện chất thì rất thường và xảy ra hầu hết ở các bệnh nhân có nguy cơ lạm dụng chất. Để tránh xảy ra các triệu chứng gây nghiện (bao gồm co giật, tăng trương lực giao cảm và lo âu), liều dùng có thể giảm dần (như là, giảm 1mg/tuần với Lorazepam, hay 0,5mg/tuần với Alprazolam). Việc giảm liều dần đặc biệt quan trọng cho các bệnh nhân dùng Benzodiazepin tác dụng nhanh và hoạt lực cao như là Lorazepam và Alprazolam. Alprazolam có thể kết hợp với hội chứng ngưng dùng thuốc nghiêm trọng, gây biến chứng mê sảng. Chuyển đổi liều tương đương với Clonazepam tác dụng dài, của Alprazolam tính liều trong một tuần, có thể dễ dàng giảm liều dần.

Có ít dữ liệu để làm cơ sở đưa ra các quyết định về thời gian trị liệu của Benzodiazepin. Trong một nghiên cứu trên các bệnh nhân chỉ lấy diazepam vì lo âu, ngưng dùng sau 6 tháng đưa đến tỷ lệ tái phát 63% trong vòng một năm. Hơn nữa, trong hầu hết bệnh nhân, khi giảm liều dần thì dễ thực hiện khi điều trị với các thuốc chống trầm cảm có tính giải lo âu.

Các thuốc Benzodiazepin có thể thường mang lợi ích trong thời gian ngắn ở giai đọan đầu dùng các thuốc chống trầm cảm, vì các thuốc benzodiazepin làm giảm nhanh chóng các triệu chứng (trái lại, các thuốc chống trầm cảm thường cần hàng tuần để bắt đầu có tác dụng) và cũng giúp làm giảm bớt tình trạng bứt rứt, căng thẳng đôi khi xãy ra ở giai đọan khởi đầu dùng các thuốc chống trầm cảm. Các thuốc Benzodiazepin có thể giảm dần trên thời gian vài tuần sau khi tác dụng giải lo âu của các thuốc chống trầm cảm bắt đầu có tác dụng. Tuy nhiên, ở một số bệnh nhân tái phát hat không thể dung nạp giảm dần liều để ngưng dùng thuốc, khi đó các thuốc benzodiazepin có thể dùng kéo dài hơn. Một phân tích Meta từ 9 nghiên cứu về kết hợp điều trị thuốc chống trầm cảm – benzodiazepin, bao gồm các thuốc SSRI và các thuốc 3 vòng, đối với các trường hợp có cùng lo âu và trầm cảm cho thấy điều trị kết hợp có thể tốt hơn trị liệu chống trầm cảm đơn thuần để giảm lo âu và trầm cảm, đồng thời cũng làm giảm tỷ lệ bỏ điều trị thấp.

Tâm lý trị liệu

 

 

Phương pháp tâm lý trị liệu được nghiên cứu nhiều nhất là liệu pháp hành vi nhận thức. Trị liệu này dạy bệnh nhân thay suy nghĩ tích cực cho những suy nghĩ gây lo âu, thường gồm 6 đến 12 buổi trị liệu cá nhân, cách tuần. Bệnh nhân ghi chép suy nghĩ của họ và cảm xúc của họ trong nhật ký, ghi chú các tình huống mà họ cảm thấy lo âu và các hành vi làm giảm lo âu. Họ cũng sắm vai và diễn tập các đáp ứng về sự lo âu.

Trong một nghiên cứu ngẫu nhiân có kiểm sóat, 32% bệnh nhân trong nhóm nhận liệu pháp hành vi nhận thức có cải thiện có ý nghĩa lâm sàng sau 3 tháng và 42% trường hợp có cải thiện có ý nghĩa lâm sàng sau 6 tháng. Trái lại, không có bệnh nhân nào trong nhóm kiểm sóat có cải thiện có ý nghĩa lâm sàng sau 3 tháng. Trong nghiên cứu mới đây theo dõi các nghiên cứu ngẫu nhiên trước đây trong vòng 8 đến 14 năm, cho thấy nữa số bệnh nhân có đáp ứng ban đầu với trị liệu hành vi nhận thức, phần còn lại cải thiện đáng kể, tiếp tục, xấp xĩ 1/3 bệnh nhân có một số cải thiện và phần còn lại có lo âu tái phát và mất năng lực làm việc.

Một phương pháp trị liệu hành vi nhận thức khác được đề nghị là liệu pháp thư giãn ứng dụng, bệnh nhân tưởng tượng các tình huống yên tĩnh để thư giãn tinh thần và giãn cơ. Một thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm sóat so sánh liệu pháp nhận thức với liệu pháp thư giản ứng dụng cho thấy không có khác biệt có ý nghĩa ơ tỷ lệ cải thiện trong thời gian một năm. Tương tự, khi xem xét so sánh các kết quả của 2 nghiên cứu trị liệu thư giản ứng dụng với kết quả của 4 nghiên cứu về trị liệu hành vi nhận thức, tỷ lệ đáp ứng sau 6 tháng thì tương tự (52% đối với trị liệu thư giản ứng dụng và 41% với trị liệu hành vi nhận thức thức). Các phương pháp tâm lý trị liệu khác đang được cố gắng cải thiện tỷ lệ đáp ứng, mặc dù liệu quả của các kết hợp trị liệu tâm lý này chưa rỏ ràng

CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA BỆNH RỐI LOẠN LO ÂU LAN TỎA

Với nhịp độ cuộc sống công nghiệp hiện nay, việc chung sống với stress là điều tất yếu nhưng chúng ta phải biết xử lý các vấn đề trong cuộc sống như thế nào để giữ được cân bằng cho chính mình.

- Biết sắp xếp giữa công việc, học tập, thư giãn phù hợp và khoa học; biết gác mọi việc ở cơ quan sang một bên, bước về nhà với tâm trạng nhẹ nhàng, vui vẻ; cùng gia đình trò chuyện nấu nướng, dọn dẹp nhà cửa, chăm sóc cây cảnh...

- Ngày cuối tuần tổ chức dã ngoại cùng gia đình, bạn bè; không bàn bạc đến những vấn đề có liên quan đến công việc;

- Thường xuyên để dành từ 30 đến 45 phút để tập thể dục mỗi ngày;

- Khi có các vấn đề căng thẳng stress, lo âu mất ngủ, thay đổi cảm xúc hay cáu gắt… nên chia sẻ với những người bạn thân nhất... hay tìm gặp các chuyên gia tâm lý để trị liệu. Nếu phát hiện mình có những vấn đề về hồi hộp, lo lắng, bồn chồn, mất ngủ… nên tìm gặp các bác sĩ chuyên khoa tâm thần để tư vấn cũng như cho các lời khuyên và trị liệu.

- Nên đa dạng hóa cuộc sống mình bằng những đam mê: hội họa, thơ văn, thể dục thể thao, yoga hay môn nghệ thuật nào mà mình yêu thích.

- Tập buông bỏ những thứ âu lo không cần thiết khác trong cuộc sống.

Ngọc Nguyễn

Tin liên quan
Ý kiến bạn đọc
Xem tiếp sau quảng cáo
19/05/2018

Hắc lào là một loại bệnh ngoài da được gây ra bởi nhiều loại nấm khác nhau, nếu không dùng đúng thuốc sẽ dẫn đến khó khăn trong điều trị, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống cũng như thẩm mỹ. Tuy nhiên, nếu các bạn biết cách dùng những loại thuốc trị hắc lào theo chỉ định của bác sĩ, có thể bệnh sẽ mau khỏi, giúp phục hồi nhanh hơn. Dưới đây là những loại thuốc trị hắc lào triệt để và hiệu quả nhất hiện nay, được Thuocthang.com.vn tổng hợp được, đây là những loại thuốc trị hắc lào thường được bác sĩ chỉ định để điều trị bệnh hắc lào.

19/05/2018

Rối loạn cương dương (Erectile dysfunction – ED) hay còn gọi là bất lực. Đây là chứng rối loạn tình dục ở nam giới, khiến họ không có khả năng đạt được hoặc duy trì sự cương cứng của dương vật để quan hệ. Điều này có thể ảnh hưởng lòng tự tôn, chất lượng cuộc sống và sự tự tin của nam giới.

19/05/2018

Nghiến răng khi ngủ là một trong những bệnh lý thường gặp của không ít người, từ trẻ nhỏ cho đến người lớn đều có khả năng mắc phải bệnh lý này. Nhất là những ai đang theo đuổi một công việc hay một mục tiêu nào đó có áp lực cực kì lớn. Nghiến răng khi ngủ không chỉ khiến cho những người ngủ cùng bị làm phiền đến mức thức giấc mà còn khiến cho bản thân người bệnh đối mặt với những vấn đề đau nhức cơ hàm hay hàm răng mất thẩm mỹ. Vì vậy bạn hãy tiến hành điều trị bệnh lý này sớm nhất có thể thông qua những cách chữa bệnh nghiến răng khi ngủ sau đây cùng Thuocthang.com.vn nhé!

19/05/2018
Đau đầu vận mạch hay còn gọi đau nửa đầu Migraine là những cơn đau thường xảy ra ở 1 bên đầu, có tính chất như mạch đập, thường kèm theo buồn nôn, nôn và tăng nhạy cảm với ánh sáng hoặc tiếng động . Đây là bệnh thường gặp ở nhiều lứa tuổi nhưng chúng ta thường có tâm lý chủ quan không điều trị, hoặc điều trị không phù hợp , dẫn tới những hậu quả khó lường. Để hiểu rõ hơn về Bệnh Đau Đầu Vận Mạch, mời các bạn cùng Thuocthang.com.vn theo dõi nội dung bài viết dưới đây!
19/05/2018

Nổi mề đay là một trong những hiện tượng nổi ban đỏ do dị ứng với thức ăn hay tiếp xúc phải các chất hóa học gây dị ứng ở da, hiện tượng nổi mề đay có thể xuất hiện ở 1 vị trí của cơ thể hay toàn thân và gây cảm giác ngứa ngáy và khó chịu. Trường hợp, nổi mề đay toàn thân khá nặng có thể gây khó thở, thậm chí là sốc phản vệ. Để hiểu rõ hơn về nổi mề đay là gì? Nguyên nhân, triệu chứng cũng như cách điều trị nổi mề đay hiệu quả và an toàn, hãy cùng đồng hành với Thuocthang.com.vn để tìm hiểu những thông tin bổ ích sau đây nhé.

Xem nhiều

Bệnh da liễu là một trong những bệnh lý phổ biến, gây ảnh hưởng trực tiếp đến bề mặt da. Bệnh có thể không nguy hiểm đến sức khỏe tính mạng của chúng ta nhưng lại tác động vào bề mặt da gây mất thẩm mỹ, mất tự tin khi giao tiếp, khó khăn trong sinh hoạt trong và cuộc sống do những cảm giác khó chịu, đau rát do bệnh ngoài da gây nên.

Nguyên nhân gây nên các bệnh về da là do: Làm sạch ko đúng cách, môi trường sống ẩm thấp, bụi bặm, nguồn nước sinh hoạt không đạt tiêu chuẩn, ăn uống quá dư thừa dầu mỡ,... Bên cạnh đấy có một lượng ko nhỏ bệnh nhân bị viêm da do tự ý dùng mỹ phẩm tự chế hoặc truyền tai nhau, khi bị bệnh thì đến điều trị ở những nơi không đủ uy tín, cũng có nguyên nhân dùng thuốc không theo chỉ định của bác sĩ nên dẫn đến những biến chứng vô lường. Bởi vì, Da là bộ phận quan trọng nhất của cơ thể. Da có nhiệm vụ bảo vệ cơ thể che chở cho cơ thể chúng ta khỏi những tác nhân gây bệnh nguy hiểm. Vì thế, cách tốt nhất để bảo vệ làn da của chúng ta chính là tìm ra các bệnh da liễu thường gặp để có cách chữa trị kịp thời nhanh chóng.

Viêm da cơ địa đối xứng là một dạng khá phổ biến của bệnh viêm da cơ địa. Bệnh gây cảm giác ngứa ngáy, khó chịu cả ngày lẫn đêm, khiến người bệnh cảm thấy mặc cảm, tự ti và ngại tiếp xúc với mọi người. Vậy bệnh viêm da cơ địa đối xứng là gì? Cách điều trị bệnh viêm da cơ địa đối xứng như thế nào để đạt kết quả tốt nhất? Mời các bạn cùng Thuocthang.com.vn tìm hiểu qua bài viết dưới đây !

Nấm da đầu (bệnh ecpet mảng tròn) là một dạng viêm nhiễm dưới chân tóc do các loại nấm ký sinh gây ra, điển hình nhất là nấm Trichophyton và Pierdraiahortai. Nấm da đầu biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng các vết loét thành các mảng tròn rộng hay xuất hiện những mảng màu trắng, đóng thành vảy trên da đầu.

Khi bị nấm da đầu, nếu không chữa trị kịp thời bệnh sẽ diễn tiến ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, gây mất tự tin khi giao tiếp. Đặc biệt, còn có nguy cơ tạo ra một số vết sẹo vĩnh viễn trên da đầu và các vết rụng tóc gây hói đầu ngay cả sau khi điều trị.

Nấm da là bệnh thường gặp ở các nước nhiệt đới nóng ẩm, môi trường vệ sinh kém tạo điều kiện cho bệnh phát triển và lây lan. Triệu chứng thường gặp nhất của bệnh là xuất hiện những đốm da tròn, đổi màu và rất ngứa. Khi bệnh không được điều trị đúng sẽ dễ dàng bị bội nhiễm vi khuẩn, dẫn đến việc điều trị khó khăn hơn và ảnh hưởng nhiều đến thẩm mỹ cũng như chất lượng cuộc sống.

Tuy nhiên, điều trị nhiễm nấm nói chung khá đơn giản. Thời gian điều trị phụ thuộc vào loại nấm bạn nhiễm, mức độ nghiêm trọng và các vấn đề sức khỏe khác mà bạn có như vấn đề với hệ thống miễn dịch. Thời gian điều trị có thể ngắn trong vòng một vài ngày (như nhiễm nấm âm đạo) hoặc có thể kéo dài đến tám tuần (như nhiễm nấm da đầu). Dưới đây Thuocthang.com.vn sẽ đưa ra cho các bạn một vài gợi ý về những loại thuốc trị nấm da tốt nhất hiện nay để bệnh nấm da sẽ không còn là phiền phức đối với các bạn nữa.

Các bệnh da liễu thường gặp ở nam giới phần lớn là những bệnh liên quan đến bộ phận sinh dục. Khi bị mắc các bệnh da liễu, người bệnh thường có cảm giác ngứa ngáy, khó chịu, bứt rứt, ảnh hưởng nhiều tới sức khỏe và sinh hoạt hàng ngày.

Dưới đây là các bệnh da liễu thường gặp ở nam giới bạn nên biết. Tham khảo bài viết của Thuocthang.com.vn để biết thêm được nhiều thông tin bổ ích.

Tin tiêu điểm

Hotline: 0982.915.237
KỲ DUYÊN
(Phản hồi - Góp ý)
 
NGUYỄN NGỌC
(Phản hồi - Góp ý)
 
Bạn đang ghé thăm website bằng di động?
Hãy bấm vào số điện thoại để gọi nhanh cho chúng tôi.